Hội hiếu là tổ chức tự nguyện của người trong làng, lập ra để giúp nhau lo việc tang: hội viên góp tiền hoặc gạo định kỳ, khi nhà một hội viên có người mất thì cả hội tới khiêng vác, dựng rạp, nấu nướng, đưa tang. Nhiều nơi hội lo cả việc hỷ như cưới hỏi, mừng thọ, nên còn gọi là hội hiếu hỷ. Tên gọi và lệ lối mỗi làng mỗi khác.
Hội hiếu là một trong những hình thức tương trợ tiêu biểu của làng Việt, cho thấy chữ đức không chỉ là chuyện từng người mà còn là nếp chung của cộng đồng. Bài kể hội hiếu làm những việc gì, lệ góp và sổ sách ra sao, những nét đẹp đáng giữ và những lệ nặng nề đã dần bỏ, rồi gợi cách lập quỹ hiếu hỷ ở khu dân cư, cơ quan hôm nay.
Hội hiếu là gì và vì sao làng xưa cần đến nó
Ở làng quê xưa, một đám tang là việc rất lớn. Cần người khiêng quan tài, đào huyệt, dựng rạp, nấu cơm cho khách viếng, lo nhạc, lo đưa tang. Một gia đình đang đau buồn khó lòng tự làm hết. Nếu không có sự giúp đỡ, nhà có tang vừa mất người thân vừa có thể khánh kiệt vì thuê mướn.
Hội hiếu ra đời để giải bài toán đó. Những người cùng làng, cùng xóm, có khi cùng một dòng họ hoặc một lứa tuổi, tự nguyện lập hội. Mỗi hội viên góp một khoản đều đặn, có thể bằng tiền, bằng thóc gạo. Khi nhà hội viên nào có tang, hội đứng ra lo phần lớn công việc và trích quỹ hỗ trợ. Ai cũng sẽ có lúc cần đến hội, nên ai cũng có lý do để góp.
Ở nhiều vùng, cùng với hội hiếu còn có các tổ chức tương trợ khác như họ, phe, giáp, hội đồng niên. Mỗi tổ chức có vai riêng nhưng đều dựa trên một nguyên tắc: góp chung lúc bình thường để đỡ nhau lúc khó khăn. Các nhà nghiên cứu văn hoá làng xã coi đây là một trong những cách người nông dân tự bảo hiểm cho nhau trước khi có các hình thức bảo hiểm hiện đại.
Hội hiếu thường làm những việc gì
Việc cụ thể khác nhau theo làng, nhưng phần lớn hội hiếu ở đồng bằng và trung du thường đảm nhận những việc sau khi nhà hội viên có tang:
- Báo tin cho hội viên và cắt cử người làm từng việc ngay khi nhận tin.
- Dựng rạp, kê bàn ghế, mượn hoặc mang tới bát đĩa, mâm, nồi niêu của hội.
- Nấu cơm, nước cho người phục vụ và khách ở xa.
- Khiêng quan tài, đào huyệt, lo đội đưa tang; ở nhiều làng, việc khiêng do thanh niên trong hội đảm nhận.
- Hỗ trợ một khoản tiền hoặc gạo từ quỹ hội cho tang gia.
- Đi viếng chung với tư cách hội, có lễ vật chung để tang gia đỡ phải tiếp từng người.
- Giúp dọn dẹp sau đám, trả lại đồ đạc mượn của hàng xóm.
Điều đáng quý là tang gia không phải đi nhờ từng người. Hội đã có sẵn người, sẵn đồ, sẵn quy trình, nên việc tang chạy được ngay cả khi gia đình còn đang rối bời, chưa kịp nghĩ phải bắt đầu từ đâu.
Lệ góp, sổ sách và những quy ước của hội
Góp đều, góp như nhau. Phần lớn hội quy định mức góp bằng nhau cho mọi hội viên, theo tháng, theo mùa vụ hoặc theo mỗi lần có việc. Góp như nhau để không ai thấy mình hơn ai, và quyền lợi khi có việc cũng như nhau.
Có người giữ sổ và người giữ quỹ. Hội thường bầu người có uy tín giữ sổ ghi hội viên, khoản góp, khoản chi cho từng đám. Sổ sách được đọc công khai trong những buổi họp hội, thường vào dịp đầu năm.
Lệ đi việc. Nhiều hội có lệ mỗi nhà phải cử người đi giúp khi có việc; ai vắng không lý do thì nộp phạt nhẹ vào quỹ. Lệ này giữ cho hội không chỉ có tiền mà còn có người.
Kế thừa tư cách hội viên. Ở nhiều nơi, khi hội viên già yếu hoặc mất, con cháu có thể nhận tiếp tư cách hội viên để duy trì quyền lợi và nghĩa vụ. Hội vì thế tồn tại qua nhiều thế hệ.
Quy ước thành văn hoặc truyền miệng. Có hội ghi quy ước thành văn bản, có hội chỉ truyền miệng. Ở những làng có hương ước, đôi khi có điều khoản về việc tương trợ hiếu hỷ.
Việc hỷ: người làng đỡ đần nhau khi cưới hỏi
Việc cưới ở làng quê xưa cũng cần nhiều người. Hội hiếu hỷ hoặc xóm giềng thường giúp cho mượn mâm bát, dựng rạp, làm cỗ, đón dâu. Có nơi có lệ góp gạo, góp gà, góp rượu cho nhà có cỗ. Người đến ăn cỗ mang theo một chút quà mừng, vừa là chúc phúc vừa là góp phần đỡ chi phí cho gia chủ.
Nếp đi ăn cỗ mang quà, ngày nay thành phong bì mừng cưới, có gốc từ tinh thần tương trợ ấy. Ban đầu, đó không phải là trả tiền ăn mà là cách cả làng cùng gánh một việc lớn cho một gia đình. Đến lượt nhà mình có việc, người khác lại góp lại. Cái vòng góp đi góp lại ấy giữ cho không nhà nào phải gánh một mình.
Hiểu như vậy thì thấy chuyện tính toán phong bì nặng nhẹ, so đo ai mừng bao nhiêu đã đi xa tinh thần ban đầu. Ý nghĩa của việc góp là chung vai, không phải là sòng phẳng từng đồng. Nhiều làng xưa cũng có lệ hội trích quỹ mừng cho hội viên có con lấy vợ lấy chồng, mừng thọ cho người già, để không ai bị bỏ quên trong những dịp vui.
Hội hiếu xưa và các hình thức tương trợ hiếu hỷ hôm nay
Tinh thần hội hiếu vẫn còn, nhưng hình thức đã thay đổi theo đời sống. Bảng đặt cạnh nhau để thấy cái gì giữ lại, cái gì thay đổi.
| Khía cạnh | Hội hiếu làng xưa | Tương trợ hiếu hỷ hôm nay |
|---|---|---|
| Người tham gia | Người cùng làng, cùng họ, cùng lứa tuổi | Người cùng tổ dân phố, cơ quan, nhóm đồng hương, hội cựu học sinh |
| Thứ được góp | Tiền, thóc gạo, công sức | Chủ yếu là tiền, có khi qua chuyển khoản |
| Việc hội lo | Gần như trọn gói: rạp, cỗ, khiêng, đưa tang | Phần lớn do dịch vụ tang lễ đảm nhận; quỹ chủ yếu hỗ trợ tiền, đi viếng chung |
| Sổ sách | Sổ tay, đọc công khai trong buổi họp hội | Sổ, bảng tính, ảnh chụp sao kê gửi trong nhóm |
| Lệ đi việc | Bắt buộc mỗi nhà cử người, vắng thì phạt | Thường tự nguyện, tuỳ điều kiện |
Cái giữ lại được là tinh thần góp chung để không ai phải đối mặt một mình với việc lớn. Cái mất đi phần nào là sự có mặt bằng sức người, thứ ở làng xưa quý không kém tiền bạc.
Những nét đẹp đáng giữ và những lệ nặng nề đã bỏ
Nét đẹp lớn nhất của hội hiếu là sự có mặt. Một nhà có tang không bao giờ thấy mình đơn độc; từ lúc báo tin tới lúc hạ huyệt, luôn có người làng bên cạnh. Với người già ở quê, biết rằng khi mình mất sẽ có hội lo chu toàn là một sự yên lòng lớn.
Nhưng làng xưa cũng có những lệ nặng nề gắn với việc hiếu hỷ. Ở một số nơi, tang gia phải làm cỗ đãi cả hội, cả làng, có khi phải bán ruộng bán trâu để lo cho đủ lệ. Những lệ ăn uống linh đình ấy từng bị nhiều nhà nho, nhà cải cách phê phán, và về sau nhiều làng sửa lại hương ước để giảm bớt. Ngày nay, quy định về việc cưới, việc tang cũng khuyến khích tổ chức gọn, tiết kiệm.
Bài học rút ra là giữ cái lõi tương trợ, bỏ cái vỏ phô trương. Một hội hiếu hay một quỹ hiếu hỷ tốt là nơi giúp gia đình gặp việc nhẹ gánh hơn, không phải nơi đặt thêm gánh nặng bằng những lệ lối tốn kém. Đó cũng là tinh thần ăn ở có đức của người làng: lo cho nhau thật, không phải lo cho bằng người.
Một nét nữa đáng giữ là cách hội đối xử với nhà nghèo. Ở nhiều nơi, nhà hội viên khó khăn vẫn được hội lo chu đáo như mọi nhà, có khi còn được hỗ trợ nhiều hơn, mà không ai nhắc tới chuyện họ góp ít hay góp chậm. Chính sự công bằng lặng lẽ này làm hội hiếu được tin cậy qua nhiều đời. Một quỹ hiếu hỷ ở tổ dân phố hay cơ quan hôm nay muốn giữ được lòng người cũng cần nếp ấy: không phân biệt người góp nhiều hay ít khi người ta gặp chuyện buồn.
Lập quỹ hiếu hỷ ở tổ dân phố, cơ quan hay nhóm đồng hương
Nếu bạn muốn lập một quỹ tương trợ hiếu hỷ theo tinh thần hội hiếu xưa, có thể tham khảo các bước sau. Đây là quỹ tự nguyện nội bộ, không phải hình thức kinh doanh hay huy động vốn.
- Họp những người muốn tham gia, thống nhất mục đích: hỗ trợ khi thành viên có tang, ốm nặng, có thể thêm mừng cưới, mừng thọ.
- Thống nhất mức góp bằng nhau, cách góp theo tháng hay theo mỗi lần có việc; ghi thành vài dòng quy ước đơn giản.
- Bầu một người giữ sổ và một người giữ tiền, hai việc tách riêng; nên có tài khoản hoặc sổ riêng, không lẫn tiền cá nhân.
- Quy định mức hỗ trợ cho từng loại việc, ai được nhận, ai quyết định chi khi có việc gấp.
- Công khai thu chi định kỳ cho mọi thành viên, ví dụ mỗi quý một lần.
- Bàn trước cách xử lý khi có người rút khỏi quỹ, khi quỹ cạn, để tránh mâu thuẫn về sau.
Quỹ nhỏ, đều, minh bạch thường sống lâu hơn quỹ lớn mà lỏng lẻo. Khi quỹ phát triển thành việc vận động đóng góp rộng ra ngoài nhóm, cần tìm hiểu và đối chiếu quy định hiện hành về vận động, tiếp nhận đóng góp tự nguyện.
Câu hỏi thường gặp
Hội hiếu và hội hiếu hỷ khác nhau thế nào?
Hội hiếu chủ yếu lo việc tang. Hội hiếu hỷ lo cả việc tang và việc vui như cưới hỏi, mừng thọ. Ở nhiều làng, hai tên gọi được dùng lẫn cho cùng một tổ chức; tên và phạm vi việc phụ thuộc vào quy ước riêng của từng nơi.
Hội hiếu có phải tổ chức của dòng họ không?
Không nhất thiết. Có hội hiếu lập theo dòng họ, có hội lập theo xóm, theo lứa tuổi, theo nhóm nghề. Điểm chung là thành viên tự nguyện tham gia và cam kết giúp nhau khi có việc.
Ngày nay ở quê còn hội hiếu không?
Ở nhiều làng quê, nhất là đồng bằng Bắc Bộ, vẫn còn hội hiếu hoặc các tổ chức tương tự, dù cách làm đã gọn hơn. Ở thành phố, tinh thần này thường chuyển thành quỹ hiếu hỷ của tổ dân phố, cơ quan, nhóm đồng hương.
Đi giúp đám tang trong làng cần lưu ý gì?
Nên hỏi người trong hội hoặc người lớn tuổi xem mình được phân việc gì, giữ trang phục giản dị, nói năng nhẹ nhàng, không bàn chuyện tiền nong của tang gia. Làm việc được giao cho trọn, xong việc thì giúp dọn dẹp trước khi về.
Quỹ hiếu hỷ cơ quan có bắt buộc tham gia không?
Quỹ hiếu hỷ nên là tự nguyện. Nếu một tổ chức muốn thu theo quy định nội bộ, cần được người lao động đồng ý và thông qua công khai. Mọi khoản thu chi phải minh bạch, có sổ sách để thành viên kiểm tra.
Vì sao hội hiếu được coi là nét đẹp của làng Việt?
Vì nó cho thấy một cộng đồng tự tổ chức để không ai phải một mình đối mặt với mất mát. Hội hiếu kết hợp góp của và góp sức, giữ được tình làng nghĩa xóm qua nhiều thế hệ, và là một hình thức tương trợ có trước các dịch vụ hiện đại.